Giai đoạn 1965-1975 - Lịch sử phát triển Trường Đại học Thủy lợi

Những năm 1965 đến 1975 là thời kỳ đặc biệt khó khăn của Nhà trường trong điều kiện cả nước có chiến tranh. Năm 1965, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh leo thang đánh phá miền Bắc, tiếp tục đưa quân tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam với mức độ ngày càng ác liệt, cả nước bước vào chiến tranh với lời thề “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước, chỉ thị 88 TTg của Thủ tướng Chính phủ về chuyển hướng công tác giáo dục từ điều kiện thời bình sang thời chiến, từ tập trung đào tạo ở Hà Nội và các thành phố lớn sang sơ tán về các địa phương. Tháng 6/1965, Trường Đại học Thủy Lợi tổ chức một cuộc di chuyển lớn mang tính lịch sử lên vùng núi huyện Lục Nam – Hà Bắc. Thầy trò và cán bộ công nhân viên đã vận chuyển toàn bộ phương tiện, thiết bị, tài liệu và thư viện, bàn ghế máy móc thí nghiệm lên nơi sơ tán, tự làm lấy nhà ở, giảng đường, phòng thí nghiệm, chỗ làm việc ở rải rác trong rừng sâu từ Mương Làng, Đồng Man, Ba Gò, Suối Mỡ, Đá Vách, Dùm, Bắc Máng, Bãi Viện, Ao Sen trải dài dài hàng chục cây số. Tại những nơi sinh viên sơ tán được sự đùm bọc của nhân dân, toàn thể cán bộ, giáo viên, sinh viên đã nhanh chóng ổn định học tập. Trong điều kiện thiếu thốn đó, tình bạn bè, tình thầy trò gần gũi, thấm đượm tình người với phong trào “ba cùng”. Công việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu và phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu không lúc nào gián đoạn. Những năm tháng kháng chiến với bao vất vả, gian lao nhưng tràn đầy lạc quan với những buổi học trong tiếng súng, tiếng gầm rú của máy bay, với những đợt thực tập qua những con đường khói bom của giặc, với những đêm luyện tập hành quân “ba sẵn sàng”. Chính từ nơi sơ tán, Nhà trường đã làm lễ tốt nghiệp Đại học cho các khóa 5, 6, 7 với gần 1000 sinh viên tỏa đi khắp mọi miền, mọi chiến trường của Tổ quốc.

Năm 1969, 1970 các khóa trở về Hà Nội, ổn định học tập được một thời gian ngắn, năm 1972 Đế quốc Mỹ ném bom trở lại miền Bắc, Trường Đại học Thủy lợi lại một lần nữa sơ tán về vùng Hiệp Hòa, Việt Yên, Hà Bắc lần thứ hai.       

Mười năm đó quả là mười năm khó khăn, song lại là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của Nhà trường, đó là:

Sự phát triển qui mô Nhà trường về công tác đào tạo

Bắt đầu từ năm 1965 số lượng sinh viên được tuyển tăng tới mức 300 – 400 mỗi khóa. Ngoài 3 ngành đã mở, năm 1965 mở thêm ngành Thủy điện, năm 1966 mở ngành Cơ khí thủy lợi, năm 1967 mở thêm ngành thi công. Hình thức đào tạo tại chức được mở rộng mỗi khóa khoảng 100 học viên. Năm 1968, lớp sau Đại học đầu tiên về chuyên đề kết cấu được mở với quy mô khoảng 60 học viên. Các khoa được thành lập, đội ngũ cán bộ, giáo viên liên tục được bổ sung đạt tới số lượng 200 giảng viên, trong đó có 30 TS, PTS. Các cán bộ, giáo viên có năng lực được cử đi đào tạo ở Liên Xô và các nước XHCN trở về được giao trách nhiệm lãnh đạo các bộ môn, các phòng chức năng. Các bộ môn được hoàn thiện lại tổ chức các bộ môn phụ trách nhiều môn học được tách ra một cách hợp lý.

Sự phát triển về chiều sâu, về chất lượng công tác đào tạo, NCKH phục vụ sản xuất và chiến đấu

Hàng loạt giáo trình được xuất bản, nội dung giảng dạy được ổn định, sinh viên sau hơn ba năm học tập tỏa về các địa phương, vừa học kỹ thuật chuyên ngành vừa lập quy hoạch, thiết kế thi công các công trình, theo tinh thần Nghị quyết 142 của Bộ chính trị và chỉ thị 222 TTg của Thủ tướng chính phủ. Công tác NCKH dần đi vào nề nếp, phòng NCKH được thành lập và đã tổ chức được ba Hội nghị khoa học. Tháng 10/1966, Hội nghị tổng kết khoa học lần thứ nhất của Nhà Trường có 46 báo cáo từ thực tế, các vấn đề khoa học gắn với sản xuất chiến đấu để phục vụ sản xuất, chiến đấu và đào tạo, và hội nghị này thường xuyên được tổ chức 2 năm một lần.

Song song với nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất trong không khí sôi động, hào hùng của đất nước, Nhà trường đã góp phần trực tiếp vào cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược. Gần 500 cán bộ, giáo viên, sinh viên thực hiện phong trào “ba sẵn sàng”, gác bút nghiên lên đường nhập ngũ với quyết tâm đánh thắng đế quốc Mỹ. Nhiều chiến sỹ Trường Đại học Thủy Lợi lập công xuất sắc, trở thành chiến sỹ thi đua, dũng sỹ diệt Mỹ, và nêu tấm gương sáng về chủ nghĩa anh hùng cách mạng như anh hùng Trần Văn Xuân, lớp 8Đ. Nhiều người đã hy sinh để lại một phần xương máu nơi chiến trường vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tổng kết thời kỳ chống Mỹ cứu nước, cán bộ, giáo viên và sinh viên Nhà trường đã được Nhà nước trao tặng 200 Huân chương các hạng, 181 huy chương hạng nhất, hạng nhì. Phong trào thi đua yêu nước, dạy tốt, phong trào học tốt được phát động từ năm 1971, hàng năm có trên 10 cán bộ giảng dạy đạt được danh hiệu cao quý. Từ một tổ lao động xã hội chủ nghĩa và 2 chiến sỹ thi đua năm 1967 đến năm 1975 đã có 7 tổ lao động XHCN và 11 chiến sỹ thi đua.