Giai đoạn 1976-1985 - Lịch sử Phát triển trường Đại học Thủy Lợi

Đây là thời phát triển khoa học kỹ thuật với quy mô cả nước, là một bước ngoặt quan trọng đối với Trường Đại học Thủy lợi. Thời kỳ bắt đầu thực hiện những cải cách trong đào tạo của Ngành đại học.

Nhiều Nghị quyết đúng đắn và sáng tạo của Nhà trường trong việc cụ thể hóa Nghị quyết 14/NQ-TW về cải cách giáo dục và Nghị quyết 37/NQ-TW về chính sách khoa học kỹ thuật đã từng bước khẳng định vai trò của Nhà trường không chỉ ở vị trí hàng đầu trong sự nghiệp đào tạo cán bộ kỹ thuật thủy lợi trong phạm vi cả nước mà cả trong lĩnh vực mũi nhọn NCKH, PVSX.

Những năm đầu của thập kỳ 80, Trường đã có một bước chuyển hướng đúng đắn trong đào tạo. Trên cơ sở nhận thức đầy đủ công tác thủy lợi với ý nghĩa là một lĩnh vực kỹ thuật “tài nguyên nước” có nhiệm vụ điều tra, đánh giá, qui hoạch, tổ chức khai thác sử dụng tổng hợp, quản lý và bảo vệ tài nguyên nước, nhằm đáp ứng yêu cầu dùng nước của ngành kinh tế, quốc phòng, dân sinh một cách hợp lý trong qui hoạch, kế hoạch thống nhất, đồng thời góp phần cải tạo làm tốt đất bảo vệ môi trường, môi sinh. Trường đã sắp xếp tổ chức lại ngành nghề đào tạo theo diện rộng, chuyên môn hóa hợp lý, hình thành nhóm ngành về Kỹ thuật Tài nguyên nước bao gồm:

  • - Công trình thủy lợi;
  • - Thủy văn và Kỹ thuật môi trường;
  • - Thủy năng và trạm thủy điện;
  • - Thủy nông và Cải tạo đất;
  • - Cơ khí thủy lợi;
  • - Kinh tế thủy lợi.
  •  

Tháng 6/1984 Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đại học  và Trung học chuyên nghiệp đã có quyết định chính thức phê duyệt chương trình đào tạo được điều chỉnh và Nhà trường thực hiện từ năm 1984.

Những năm 80 do tác động của xã hội, chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy giảm, số thí sinh dự thi vào trường ít, Nhà trường đã phát triển về số lượng học sinh hệ tại chức. Ngoài đào tạo hệ Tại chức ở cơ sở chính, Trường đã tổ chức mở các lớp tại chức ở các địa phương, các lớp bồi dưỡng Sau đại học về cơ học công trình, kỹ thuật và tổ chức thi công, chỉnh trị sông, thủy lực, thủy văn, quản lý kinh tế... ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Quy mô đào tạo Sau đại học được mở rộng có hệ thống hơn. Năm 1979, Trường chính thức được công nhận là một cơ sở đào tạo Sau đại học. Trong giai đoạn này chủ yếu đào tạo Phó tiến sỹ. Những luận án phó Tiến sỹ khoa học kỹ thuật đầu tiên đều dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu và phục vụ sản xuất.

Đội ngũ cán bộ giảng dạy của Trường được phát triển, nhiều giảng viên được đào tạo ở nước ngoài trở về, chất lượng đội ngũ giảng viên được nâng cao, đưa tổng số giảng viên của Nhà trường có trình độ học vị Tiến sỹ, phó Tiến sỹ lên hơn 50 người. Năm 1980, có 01 giảng viên được Nhà nước phong tặng danh hiệu Giáo sư, 05 giảng viên được Nhà nước phong tặng danh hiệu phó Giáo sư. Đến năm 1984, Nhà trường lại có thêm 20 cán bộ được công nhận phó Giáo sư.

Đây cũng là thời kỳ công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ sản xuất phát triển mạnh mẽ. Một cuộc hành quân rầm rộ vào mặt trận thủy lợi ở các tỉnh phía Nam. Đầu năm 1976, 16 giảng viên với 150 kỹ sư khóa 13 vừa tốt nghiệp ra trường. Những năm tiếp theo sinh viên năm cuối của các khóa 14, 15, 16 lên đường vào các tỉnh phía Nam. Thầy vừa giảng dạy vừa nghiên cứu, trò vừa học tập vừa phục vụ sản xuất.. Thầy trò có mặt khắp các vùng từ Tây Nguyên, Nam Trung Bộ đến Đồng bằng Sông Cửu Long và lấy tên là Đoàn ĐH (ĐH1 đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh; ĐH3 đóng tại Vĩnh Long sau sát nhập vào ĐH1 – là tiền thân của Cơ sở 2 Đại học Thủy Lợi ngày nay; ĐH2 đóng tại Phan Rang và Lâm Đồng – là tiền thân của ĐH2 hiện nay). Sự sáng tạo độc đáo này đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng địa bàn đào tạo của Trường trong cả nước và là sợi dây nối liền Nhà trường với cơ sở sản xuất.

Đây cũng là thời điểm Nhà trường tham gia nhiều đề tài khoa học cấp Nhà nước, những chương trình trọng điểm quốc gia như: Một số vấn đề về thủy văn – thủy lực đồng bằng sông Cửu Long; Đánh giá tiềm năng thủy điện các sông suối ở Việt Nam; Đánh giá nguồn nước mặt lãnh thổ Việt Nam và các vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng bằng Sông Cửu Long.

Về quan hệ Quốc tế, ngoài quan hệ truyền thống với các nước XHCN, Nhà trường đã mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức và nước khác trên thế giới. Nhà trường đã giúp đỡ nước CHND Lào đào tạo mỗi khóa 30 sinh viên và cử chuyên gia giúp đỡ nước bạn lập quy hoạch và chương trình đào tạo.

Khó khăn do hậu quả của chiến tranh xâm lược kéo dài của đế quốc Mỹ, cơ sở của Nhà trường bi hư hại nhiều, sau thời gian sơ tán trở về, Nhà trường đã bắt tay vào xây dựng lại cơ sở vật chất phục vụ cho giảng dạy, học tập, nghiên cứu, gồm: 30 giảng đường, 11 phòng thí nghiệm, 1 phòng thí nghiệm chuyên đề về địa kỹ thuật, 1 trạm thí nghiệm tưới tiêu, 1 xưởng cơ khí, xưởng in và thư viện với 15 vạn cuốn giáo trình, sách tham khảo, các cơ sở thực tập, nghiên cứu và thực nghiệm, một số trại sản xuất...xây dựng nhiều nhà cấp 4 đề giải quyết tạm thời vấn đề nhà ở cho cán bộ, giảng viên từ nơi sơ tán trở về, đặc biệt xây dựng và đưa vào sử dụng nhà 5 tầng số 12.

Phong trào thi đua dạy tốt, phục vụ tốt và học tốt được duy trì trở thành nề nếp hàng năm. Trong thời kỳ này, Nhà trường đã được Nhà nước trao tặng  Huân chương lao động hạng Ba (1976), Huân chương lao động hạng Nhì (1978), Huân chương lao động hạng Nhất (1984); 9 Bộ môn đã được trao tặng Huân chương lao động hạng Ba; nhiều cá nhân được tặng Bằng khen của Chính phủ; UBND các Tỉnh, Bộ trưởng các Bộ; Tổng công đoàn, TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Nhiều tập thể giáo viên và sinh viên được công nhận là tổ đội lao động XHCN.

Thời kỳ này là thời kỳ phát triển và trưởng thành vượt bậc của Nhà trường về chất, cũng là thời kỳ định hướng vững chắc cho việc đào tạo về lĩnh vực kỹ thuật phát triển tài nguyên nước bao gồm nước mặt, nước ngầm và ven biển.