Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

Ngày 17/9/2026, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, Ủy ban nhân dân tỉnh phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo khoa học “Các giải pháp nạo vét, tận dụng vật liệu để gây bồi, phục hồi vùng bãi, phát triển rừng ngập mặn ven biển và giải pháp chuyển nước tạo nguồn nhằm tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển tỉnh Cà Mau”. Hội thảo do ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, chủ trì. Trường Đại học Thủy lợi là đơn vị trình bày tham luận mở đầu Chuyên đề 1, khẳng định vị thế cơ sở đào tạo, nghiên cứu đầu ngành về thủy lợi, tài nguyên nước và kỹ thuật ven biển, đồng thời mở ra định hướng hợp tác toàn diện giữa Nhà trường và tỉnh Cà Mau.

Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

Toàn cảnh Hội thảo khoa học ngày 17/9/2026 tại Trụ sở Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau

Bài toán của một địa phương ba mặt giáp biển

Hội thảo cụ thể hóa Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 166/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, quy tụ khoảng 100 đại biểu từ các Bộ, Cục, viện, trường, lãnh đạo tỉnh, các sở, ngành và 64 xã, phường.

Phát biểu khai mạc, ông Lê Văn Sử nêu rõ thách thức của địa phương có khoảng 310 km bờ biển: trên 200 km bờ biển và gần 1.100 km bờ sông sạt lở hoặc có nguy cơ sạt lở; bồi lắng cửa sông, kênh rạch làm giảm khả năng tiêu thoát và giao thông thủy; nước ngọt khan hiếm trong khi nước ngầm cạn kiệt. Về quản lý, hệ thống thủy lợi vận hành thiếu đồng bộ, chi phí tư vấn thiết kế nạo vét chiếm tới 20–30 % tổng mức đầu tư, nhu cầu đầu tư vượt xa khả năng ngân sách. Tỉnh đặt yêu cầu chuyển đổi từ ứng phó sang chủ động quản trị rủi ro dựa trên dữ liệu và dự báo, từ đầu tư công sang huy động tổng hợp nguồn lực xã hội; nội dung đổi mới cơ chế quản lý, duy tu hệ thống thủy lợi được giao cho Trường Đại học Thủy lợi chủ trì tham luận.

Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

Ông Lê Văn Sử, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau, phát biểu khai mạc Hội thảo

Bốn chuyển dịch trong khung đổi mới do Trường Đại học Thủy lợi đề xuất

Tham luận “Đổi mới công tác quản lý, giải pháp kỹ thuật và cơ chế thực hiện duy tu đối với hoạt động nạo vét hệ thống thủy lợi, giao thông thủy vùng Đồng bằng sông Cửu Long và tỉnh Cà Mau” của nhóm tác giả PGS.TS. Trần Thanh Tùng và PGS.TS. Đinh Nhật Quang xuất phát từ luận điểm: nạo vét phải được quản trị theo vòng đời, không phải một gói thầu nạo vét đơn lẻ. Khung đề xuất kết tinh kinh nghiệm nghiên cứu, tư vấn nhiều năm của Nhà trường về động lực bùn cát, xói lở bờ biển và quản lý thủy lợi vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Khung đổi mới gồm bốn chuyển dịch:

Thứ nhất, chuyển từ quản lý phân tán sang quản lý tích hợp theo “hành lang thủy đa mục tiêu”: mỗi hành lang có mã tuyến, mặt cắt chuẩn, chuỗi đo sâu và hồ sơ vật liệu nạo vét dùng chung giữa các ngành; mọi quyết định nạo vét phải trả lời được bồi lấp ở đâu, tốc độ bao nhiêu, nạo vét khi nào và bùn sẽ đi đâu.

Thứ hai, chuyển từ thanh toán theo khối lượng nạo vét sang hợp đồng bảo trì tuyến kênh dựa trên kết quả (PBC): nhà thầu được thanh toán theo việc duy trì cấp độ dịch vụ của tuyến kênh (đảm bảo cao trình đáy, bề rộng, số ngày thông tuyến, độ đục) trong 2–5 năm, có cơ chế thưởng – phạt và kiểm tra độc lập.

Thứ ba, chuyển từ nhận chìm, chôn lấp vật liệu nạo vét sang kinh tế tuần hoàn, tái sử dụng vật liệu nạo vét: vật liệu nạo vét phải được phân loại tại nguồn, khử nước, kiểm định mặn – phèn – ô nhiễm, đăng ký theo lô có mã truy xuất trước khi tái sử dụng; bùn đạt chuẩn dùng để gây bồi tạo bãi, gia cố chân đê, tạo nền phục hồi rừng ngập mặn, với điều kiện phải quy hoạch trước mạng lưới bãi tiếp nhận.

Thứ tư, chuyển từ khảo sát rời rạc sang quản lý bằng dữ liệu số, mô hình hóa và quan trắc liên tục: sử dụng kết hợp đo sâu đa tia và GNSS/RTK; UAV, ảnh vệ tinh quang học và SAR; cùng mô hình thủy động lực – bùn cát, tích hợp trên một dashboard cấp tỉnh. Đây là lĩnh vực Nhà trường có thế mạnh nổi bật với các nhóm nghiên cứu về viễn thám, trí tuệ nhân tạo và Digital Twin cho hệ thống sông – biển.

Tham luận đề xuất thí điểm trên kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp và trục kênh Bắc – Nam theo lộ trình 3–5 năm, cùng bảy kiến nghị chính sách, nổi bật là hướng dẫn liên ngành về hành lang thủy đa mục tiêu, bổ sung định mức đo sâu số hóa và khử nước bùn, chấp nhận hợp đồng PBC trong cơ chế dự toán và công nhận vật liệu nạo vét đạt chuẩn là dòng vật liệu hợp pháp có chứng từ truy xuất.

Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

PGS.TS. Trần Thanh Tùng, Trường Đại học Thủy lợi, trình bày tham luận mở đầu Chuyên đề 1 tại Hội thảo.

Sự ghi nhận của địa phương và cam kết của Nhà trường

Các đề xuất của Trường Đại học Thủy lợi nhận được sự quan tâm và đánh giá tích cực của lãnh đạo tỉnh và các Cục chuyên môn. Cách tiếp cận “quản trị theo vòng đời” và yêu cầu xác định nơi đến của vật liệu trước khi nạo vét được nhìn nhận là phù hợp với thực tiễn, nơi bãi tiếp nhận đang là nút thắt lớn nhất của các dự án nạo vét xã hội hóa; đề xuất thí điểm có kiểm soát được xem là bước đi khả thi để tạo cơ sở thực chứng cho việc điều chỉnh định mức và hướng dẫn liên ngành.

Phát biểu tại Hội thảo trong vai trò đồng chủ trì, GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Nhà trường, chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật bờ biển, khẳng định cam kết ở cấp cao nhất của Trường Đại học Thủy lợi trong việc đồng hành cùng tỉnh Cà Mau giải quyết các bài toán về sạt lở, bồi lắng và an ninh nguồn nước. Theo đó, Nhà trường và Ủy ban nhân dân tỉnh thống nhất xúc tiến ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác (MOU) toàn diện trên bốn trụ cột: nghiên cứu và tư vấn chính sách về nạo vét, quản lý bùn cát, bảo vệ bờ; đào tạo, bồi dưỡng nhân lực kỹ thuật cho các sở, ngành và 64 xã, phường; chuyển giao công nghệ quan trắc viễn thám, mô hình số và hệ thống hỗ trợ ra quyết định; phối hợp đề xuất nhiệm vụ khoa học công nghệ và huy động các dự án hợp tác quốc tế mà Nhà trường là đối tác.

Trường Đại học Thủy lợi đồng hành cùng tỉnh Cà Mau tìm lời giải cho bài toán nạo vét, tận dụng vật liệu và tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển

GS.TS. Nguyễn Trung Việt, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi (thứ ba từ trái sang), phát biểu khẳng định cam kết đồng hành của Nhà trường với tỉnh Cà Mau

Tầm nhìn và cam kết đồng hành

Với hơn sáu thập kỷ đào tạo và nghiên cứu, Trường Đại học Thủy lợi định hướng trở thành đại học nghiên cứu đa ngành hàng đầu Việt Nam và khu vực về thủy lợi, tài nguyên nước, môi trường và phòng, chống thiên tai, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long là địa bàn ưu tiên chiến lược, với Phân hiệu tại Thành phố Hồ Chí Minh là đầu mối triển khai. Nhà trường sẵn sàng đồng hành cùng tỉnh ngay trong các bước tiếp theo: xây dựng bộ dữ liệu bồi lấp các cửa biển, kênh rạch toàn tỉnh dùng chung cho các ngành; thiết kế và giám sát các tuyến thí điểm theo chuỗi “đo – dự báo – nạo vét – khử nước – kiểm định – tái sử dụng vật liệu nạo vét”; chuyển giao quy trình theo dõi bồi – xói bằng viễn thám và mô hình số.

Kết quả Hội thảo sẽ được Ủy ban nhân dân tỉnh tổng hợp, kiến nghị các Bộ, ngành Trung ương hoàn thiện cơ chế, chính sách. Trường Đại học Thủy lợi xác định hợp tác với tỉnh Cà Mau là mô hình mẫu về gắn kết “nhà trường – chính quyền – doanh nghiệp” trong giải quyết các vấn đề lớn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Phòng Khoa học công nghệ và Hợp tác quốc tế