An ninh nguồn nước đang trở thành một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển bền vững, quốc phòng, an ninh và đời sống nhân dân. Trên nền tảng đội ngũ, quy mô đào tạo và năng lực nghiên cứu hiện có, Trường ĐH Thủy lợi đang đứng trước yêu cầu phát huy vai trò của một cơ sở giáo dục đại học có vị trí trọng điểm trong lĩnh vực tài nguyên nước, từng bước kiến tạo năng lực quốc gia về nước.
Trong giai đoạn phát triển mới, tài nguyên nước không còn là vấn đề của riêng một ngành hay một địa phương. Nước liên quan trực tiếp đến an ninh quốc gia, sản xuất nông nghiệp, năng lượng, lương thực, môi trường, sức khỏe cộng đồng và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan, đô thị hóa nhanh và sức ép khai thác tài nguyên đang làm xuất hiện đồng thời nhiều thách thức: lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, sụt lún, suy giảm nguồn nước, ngập đô thị và mất an toàn công trình.
Kết luận số 36-KL/TW ngày 23/6/2022 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh nguồn nước và an toàn đập, hồ chứa nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ yêu cầu bảo đảm số lượng, chất lượng nước cho dân sinh và phát triển kinh tế – xã hội trong mọi tình huống; chủ động tích trữ, điều hòa, phân phối nguồn nước; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo; từng bước hiện đại hóa công tác quan trắc và vận hành đập, hồ chứa theo thời gian thực. Kết luận cũng đặt ra nhiệm vụ xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá, giám sát an ninh nguồn nước quốc gia, gắn với chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Những yêu cầu ấy tiếp tục được cụ thể hóa trong Kết luận số 26-KL/TW ngày 24/4/2026 của Bộ Chính trị về phòng, chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, giai đoạn 2026 – 2035, với quan điểm tiếp cận tổng thể, liên vùng, đa mục tiêu, kết hợp hài hòa giải pháp công trình và phi công trình. Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh cũng mở rộng yêu cầu nghiên cứu từ lưu vực, cửa sông đến vùng bờ và biển, coi khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực là những nền tảng quan trọng.
Từ đòi hỏi của thực tiễn và định hướng lớn của Đảng, vai trò của Trường ĐH Thủy lợi cần được nhìn nhận trong một không gian rộng hơn. Nhà trường không chỉ đào tạo cán bộ kỹ thuật cho ngành nước, mà còn phải trở thành một lực lượng khoa học đủ năng lực cung cấp dữ liệu, công nghệ, chuyên gia và luận cứ phục vụ hoạch định chính sách; đồng thời tham gia giải quyết những bài toán liên ngành, liên vùng và có tầm ảnh hưởng quốc gia.
Nền tảng để thực hiện vai trò đó trước hết được xác lập bằng một đội ngũ có quy mô và chiều sâu chuyên môn. Trường hiện có 1.213 cán bộ, giảng viên; trong đó trên 64% giảng viên có trình độ tiến sĩ, với 17 giáo sư, 100 phó giáo sư và 418 tiến sĩ. Ở ba trình độ đào tạo, Nhà trường triển khai 77 chương trình, quy tụ khoảng 24.000 sinh viên, hơn 1.000 học viên cao học và 133 nghiên cứu sinh. Đây là lực lượng quan trọng để tổ chức đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao tri thức ở quy mô lớn.
Đến nay, Trường ĐH Thủy lợi đã đào tạo gần 50.000 kỹ sư, cử nhân, gần 7.000 thạc sĩ và gần 200 tiến sĩ. Mạng lưới nhân lực do Nhà trường đào tạo đang có mặt tại nhiều cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, địa phương và doanh nghiệp. Trong 5 năm gần đây, Trường có 1.819 công bố quốc tế và thực hiện hơn 100 nhiệm vụ khoa học, công nghệ các cấp; riêng năm 2025 có 48 đề tài, 248 công bố quốc tế cùng 7 bằng sáng chế và giải pháp hữu ích.
Các con số trên không chỉ phản ánh quy mô của một cơ sở đào tạo. Quan trọng hơn, đó là nền lực của một đại học nghiên cứu có khả năng quy tụ chuyên gia, duy trì các nhóm nghiên cứu mạnh, tổ chức những chương trình khoa học dài hạn và chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm phục vụ xã hội. Vị thế của Nhà trường vì thế phải được xác lập bằng năng lực giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước, thay vì chỉ được nhận diện qua một danh xưng.

Để phát huy đầy đủ thế mạnh, Trường ĐH Thủy lợi cần tiếp tục tổ chức lại năng lực đa ngành quanh một trục chiến lược thống nhất: bảo đảm an ninh nguồn nước, an toàn trước thiên tai và phát triển bền vững. Trên trục đó, thủy văn, thủy lực và công trình phải được kết nối chặt chẽ với môi trường, năng lượng, kinh tế, quản trị, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu. Đây không phải là sự mở rộng dàn trải, mà là sự tích hợp các lĩnh vực cần thiết để xử lý những bài toán ngày càng phức tạp về nước.
Sự chuyển đổi ấy trước hết phải được thể hiện trong đào tạo. Mục tiêu không chỉ là cung cấp người vận hành một công trình, mà hình thành đội ngũ kỹ sư, nhà khoa học và nhà quản lý có tư duy hệ thống, hiểu mối quan hệ giữa nước với phát triển và có khả năng đưa ra giải pháp trong điều kiện luôn biến động. Chương trình đào tạo cần gắn sâu hơn với các bài toán thực tiễn; phòng thí nghiệm trở thành không gian học tập và sáng tạo; người học được tham gia nghiên cứu, mô phỏng, dự báo và giải quyết vấn đề ngay từ trong trường.

Cùng với đổi mới đào tạo, bước đi có tính đột phá là hình thành một hệ sinh thái tri thức về nước, trong đó dữ liệu, con người, phòng thí nghiệm, mô hình tính toán và mạng lưới chuyên gia được kết nối để phục vụ những nhiệm vụ lớn. Hệ sinh thái này phải trực tiếp đáp ứng các yêu cầu về xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên nước; nghiên cứu kịch bản hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, lũ lụt và ô nhiễm; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo sớm và hỗ trợ vận hành liên hồ chứa trong thời gian thực.

Trên nền tảng kết quả hiện có, lộ trình phấn đấu giai đoạn 2026 – 2035 cần ưu tiên phát triển khu đại học xanh, thông minh trên nền tảng số; hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm và thí nghiệm dùng chung; trung tâm thực tế ảo, bản sao số và mô phỏng liên ngành; các trung tâm nghiên cứu xuất sắc về thủy lợi, phòng, chống thiên tai. Việc tích hợp trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và mạng lưới cảm biến sẽ tạo điều kiện để Nhà trường nâng cao năng lực quan trắc, dự báo, điều hành hồ chứa, kiểm soát ngập, giám sát an toàn công trình và quản trị lưu vực.
Mục tiêu xây dựng Trường ĐH Thủy lợi trở thành trung tâm tri thức quốc gia về nước cũng cần được lượng hóa bằng những nấc thang phấn đấu cụ thể, có thể kiểm chứng. Đến năm 2030, Nhà trường hướng tới nhóm 200 đại học hàng đầu châu Á; có một ngành hoặc lĩnh vực thế mạnh thuộc nhóm 200 thế giới; nâng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ lên 76%; phát triển 5 chương trình đào tạo tài năng và 13 chương trình đạt kiểm định quốc tế.
Đến năm 2035, tầm nhìn được nâng lên nhóm 150 đại học hàng đầu châu Á, một ngành hoặc lĩnh vực thuộc nhóm 150 thế giới, 85% giảng viên có trình độ tiến sĩ, 15 chương trình đào tạo tài năng và 18 chương trình được kiểm định quốc tế. Đây là các chỉ số tham chiếu để lượng hóa mức độ tiến bộ, được đặt trên chính nền tảng đội ngũ, quy mô đào tạo và kết quả nghiên cứu hiện có, đồng thời tạo sức ép đổi mới quản trị, tập trung nguồn lực và nâng cao chất lượng trong toàn trường.
Quá trình đó đòi hỏi một cơ chế kết nối chặt chẽ giữa Nhà trường với cơ quan quản lý, địa phương, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Cơ quan quản lý đặt hàng những nhiệm vụ chiến lược; địa phương cung cấp thực tiễn và tiếp nhận giải pháp; doanh nghiệp đưa công nghệ vào đời sống; đối tác quốc tế chia sẻ tri thức và chuẩn mực; còn Nhà trường giữ vai trò hạt nhân tổ chức, bảo đảm chất lượng khoa học và đào tạo nguồn nhân lực. Giá trị của mỗi nhiệm vụ cần được đo bằng khả năng ứng dụng, số địa phương và doanh nghiệp được thụ hưởng, cũng như tác động đối với chất lượng quản trị nguồn nước.

Khi đất nước cần dự báo nguồn nước, đánh giá an toàn hồ đập, xây dựng phương án chống ngập, kiểm soát xâm nhập mặn, bảo vệ bờ sông, bờ biển hoặc đào tạo một thế hệ chuyên gia mới, Trường ĐH Thủy lợi phải là một trong những lực lượng chuyên môn quan trọng được huy động. Đó là vị thế thực chất của một cơ sở giáo dục đại học có vai trò trọng điểm quốc gia trong lĩnh vực tài nguyên nước: Có chiều sâu đào tạo, đội ngũ đầu ngành, năng lực nghiên cứu và khả năng chuyển hóa tri thức thành giải pháp phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước.
Đầu tư cho Trường ĐH Thủy lợi, vì thế, không chỉ là đầu tư cho một cơ sở giáo dục, mà là đầu tư trực tiếp cho năng lực quốc gia trong việc hiểu nước, dự báo nước, quản trị nước và bảo đảm an toàn trước nước. Từ nền tảng hiện có, với một lộ trình được lượng hóa và một chiến lược tập trung vào những bài toán lớn của đất nước, Nhà trường có cơ sở để khẳng định tầm vóc, phát huy vai trò dẫn dắt và từng bước trở thành trung tâm tri thức quốc gia về nước.








